Sự tích Chầu Lục Cung Nương

0
102

Cũng như Chầu Đệ Nhị, người ta cũng thường hay thỉnh Chầu Lục về ngự đồng. Khi ngự đồng Chầu Lục mặc áo màu lam, khăn chít củ ấu, vai đeo gùi, thắt lưng đeo dao quái. Chầu về ngự đồng làm lễ khai quang và múa mồi, ban tài phát lộc.

Chầu Lục cung nương được biết đến với nhiều danh hiệu khác như: Chúa Lục Cung Nương, Lục Cung Tiên Chúa, Lục Cung Công Chúa, Đệ Lục Thánh Chầu, Chầu Lục, Chúa Bà Lục Cung,…Ngài cũng là vị thánh đứng ngôi vị thứ sau trong hàng tứ phủ Chầu Bà. Chầu Lục vốn là người Nùng (vì vậy nên có người gọi bà là Mế Lục Cung Nương), con nhà lệnh tộc trên vùng Chín Tư, Lạng Sơn.

SỰ TÍCH CHẦU LỤC CUNG NƯƠNG

Theo các bản văn chầu, Chúa bà giáng sinh vào cửa họ Trần vào ngày mồng mười tháng năm tại huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn. Ngài hóa thần vào ngày hai mươi tháng chín. Chúa bà được tôn xưng là “Lục Cung Tiên Chúa” với quyền hành cai quản lục cung – sáu viện (lục cung chỉ các tiên nữ trên thượng giới, trong triều đình phong kiến xưa, người ta gọi các phi tần là lục cung). Cũng như Chầu Năm, Chầu Lục hiển ứng giúp dân làm trồng trọt. Tuy anh linh nhưng bà rất đanh hanh, còn lưu truyền rằng, chầu thường cùng các bạn tiên nàng giả làm các cô gái người Nùng, bán hàng, ung dung cợt khách qua đường.
Trong năm ngày tiệc Chầu Lục Cung Nương có hai ngày tức là 10/5 âm lịch – ngày đản nhật giáng sinh của Chầu Lục như có đoạn văn sau đây:

Đêm ấy xuống trần gian báo mộng
Trần thị nương tâm động bào thai
Tháng năm giời tý mồng mười
Sinh ra Chúa Lục khác người trần gian
Vào ngày 20/9 âm lịch – ngày hóa của Chầu trong đoạn văn sau:
Hoa chưa kế nhụy trăng chưa tới kì
Hóa tức đôi mươi tháng chín
Giữa thu xanh về xa lánh hồn nương
Thung huyên buồn sầu thảm nhớ thương
Hầu giá Chầu Lục Cung Nương

Đôi khi Chầu Lục lại làm giá chầu về sang khăn cho đồng tân lính mới và chứng đàn Sơn Trang trong lễ mở phủ. Chầu Lục cũng có thể chứng mâm giầu trình. Trong nghi lễ khai phủ đại đàn (lễ mở phủ), Chúa bà thường là vị thánh cuối cùng chứng đàn và sang khăn cho tân đồng.

CĂN SỐ CHẦU LỤC CUNG NƯƠNG

Theo quan niệm dân gian, mỗi thanh đồng có một vị Thánh cai quản đầu đồng bản mệnh và số mệnh mỗi thanh đồng tương ứng với vị thánh quản cai. Theo quan niệm đó, người có căn mệnh “Chầu Lục” thường có khả năng làm đồng thầy, mở phủ và chữa bệnh cho người đời. Người ta tin rằng, Chúa Bà thường cho lộc làm thầy, lộc buôn lộc bán lộc dọn quán bán hàng. Cũng như các vị Thánh khác, Chúa bà được quan niệm là một vị thần có khả năng ban phúc giáng họa cho trần thế.

LỤC CUNG LINH TỪ – ĐỀN CHÍNH TƯ – ĐỀN LŨNG

Đền thờ Chầu Lục Cung Nương được lập tại thôn Chín Tư, xã Hòa Lcj, huyện Hữu Lũng tỉnh Lạng Sơn, tương truyền là nơi chầu hạ phàm và hiển thánh. Đền thờ Châu được gọi là Lục Cung Linh Từ, Đền Lũng hay đền Chín Tư.

VĂN CHẦU LỤC CUNG NƯƠNG

Do là một vị Chầu thường về nên văn Chầu Lục có rất nhiều bản, sau đây là một trong số những bản văn chầu thường được dùng của Chầu Lục cung nương.
Sắc phong Chầu Lục Cung Nương
Vốn dòng Trần Thị quê hương non ngàn
Hữu Lũng giang là nơi cát địa
Chín Tư ngàn tú khi là nơi
Chúa Tiên vâng lệnh y lời
Ở trong bệ ngọc, ra ngoài màn loan
Đêm đông xuống trần gian báo mộng
Trần Thị Nương tâm động bào thai
Mãn tuần chín tháng lẻ mười
Sinh ra Chúa Lục khác người trần gian
Đôi thung huyên vui mừng hớn hở
Khắp bản làng mừng rỡ bảo nhau
Mới hay như ý sở cầu
Sớm nâng nui ngọc, ngày chau chuốt vàng
Chốn phòng loang đêm ngày dưỡng dục
Đặc tên là Chầu Lục Cung Nương
Ơn trờ sao khéo phi phương
Mặt huê hớn hởn, tính gương làu làu
Vẹn một bầu nước trong leo lẻo
Trác ông trăng già sao khéo vẩn vơ
Vô tình ép uổng duyên tơ
Hoa chưa kết nhụy trăng chưa tới kì
Hóa tức thì đôi mươi tháng chín
Giữa thu về xa lánh hồn nương
Thung huyên buồn sâu thảm nhớ thương
Sót xa tấc dạ ruột thường quặn đau
Trải bấy lâu thiên đình sai xuống
Nay đến ngày, mãn hạn về tiên
Nỗi lòng thương nhớ thung huyên
Dấu thiêng hiển tích trong miền Chín Tư
Tục truyền lưu lại ngàn thu
Nhân dân thôn ấp còn thù giặc nguyên
Xuân sang mở hội đua thuyền
Nam thanh nữ tú cùng nhau đua tài
Bất thường một sớm hôm mai
Chầu lên đỉnh núi hóa thân tức thì
Sắc ban phong vang lừng tám cõi
Tiếng chầu ngàn chói lọi trời nam
Trong đền tấp nập sửa sang
Lối lên Sông Hóa lại càng thanh tao
Vào năm Kỷ Mão anh hùng
Có Tiên Chúa Lục giáng vào thiên thai
Trên núi Thái bốn mùa mát mẻ
Dưới bản làng vượn hót oanh ca
Nhớ xưa họ Quách lương gia
Nhân từ có một hiền hoa không hai
Vừa gặp buổi trang đài hội yến
Chầu Lục vào dâng tiếng kim bôi
Trống rung chưa kịp dứt hồi
Bỗng đâu Chầu Lục sảy rơi chén vàng
Trên chín bệ Vua cha phật ý
Nổi lôi đình truyền chỉ chiếu ba
Kíp đầy Chầu xuống trần gian
Mười lăm năm lẻ khái hoàn hồi cung
Nhà họ Quách vốn dòng quốc chỉ
Kết duyên lành Trần Thị Hồng Mai
Vào năm kỷ mão tháng hai
Ngày Mão giờ Mao Trang đài nở hoa
Vẻ cốt cách da ngà tựa tuyết
Bóng trăng tròn mặt nguyệt như in
Mày ngài mắt phượng tóc tiên
Môi son má phấn lại thêm nõn nà
(Một dị bản tương tự của bản văn trên)
Sắc phong Chúa Lục Cung Nương
Vốn dòng lệnh tộc quê hương thượng ngàn
Huyễn Hữu Lũng cao sơn vị thủy
Bắc Lệ ngàn tú khí chung linh
Nguyên xua chầu chực đế đình
Vào tâu bệ ngọc ra trình Mẫu vương
Đêm ấy xuống trần gian báo mộng
Hoàng thị nương tâm động bào thai
Tháng năm giờ tý mồng mười
Sinh ra Chầu Lục tốt tươi lạ thường
Sinh ra Chầu Lục Cung Nương
Hình dong nhan sắc phi phương ai tày
Chốn phòng loan đêm ngày dưỡng dục
Ví so bằng vàng ngọc báu gia
Mỗi năm là một nõn nà
Nửa vầng trăng khuyết trăm hoa cài đầu
Má phấn dồi phau phau tựa tuyết
Diện lầu lầu vẻ nguyệt in hoa
Nhỡn tinh long lánh ngân hà
Da dường tựa tuyết tóc dà sở vân
Vẻ thanh tân dịu dàng cách điệu
Đóa phù dung uốn éo nhởn nhơ
Vẻ nào mà chẳng quá ưa
Hoa xuân mới nhú nguyệt thu đương tròn
Giá so bằng kim côn ngọc lệ
Màu sắc nào ai vẽ cho y
Phong tư ngôn hạnh dung nghi
Giá so Tống Tử ví bì Tề Khương
Da ngà vẻ ngọc phi phương
Đào huê lóng lánh tinh hương làu làu
Chảy qua cầu nước trong leo lẻo
Trách ông trăng già sao khéo vẩn vơ
Vô tình ép uổng lòng tơ
Hay đâu con tạo vẩn vơ thế này
Hẹn đúng ngày đôi mươi tháng chín
Cửa thung huyên xa lánh hồn thương
Chầu Lục ngài sầu thảm thương
Sót xa tấc dạ ruột thường quặn đau
Trải bấy lâu thiên đình sai xuống
Nay đến ngày, mãn hạn quy tiến
Nỗi lòng thương nhớ thung huyên
Một lời tấu đồi chỉ truyền phán ra
Giữ chữ hiếu ấy là tiết hạnh
Cho vui vầy thú cảnh lâm sơn
Trần gian ghi nhớ công ơn
Lập đền phụng sự khói hươn ngạt ngào
Đền thờ trên đỉnh non cao
Trăm hoa đua sắc ngạt ngào tỏa hương
Sớm chiều khói tỏa mây tuôn
Chim kêu vượn hót hổ vờn sơn khê
Chim công lạc lối đi về
Dưới sông róc rách thuyền bè êm ru
Tục truyền lưu để ngàn thu
Nhân dân thôn ấp còn thù giặc Nguyên
Xuân sang mở hội đua thuyền
Nam thanh nữ tú cùng lên đua tài
Bất thường một sớm hôm mai
Cuồng phong gió giật mây trời tối đen
Ầm ầm giông tố nổi lên
Lục Cung tiên Chúa tựa tiên giáng trần
Đi lên đỉnh núi hóa thân
Lấy đôi hải sảo trước sân làm bằng
Tức thì lên tới Đồng Đăng
Bốn phương dạo gót gió trăng đi về
Có phen ngự lầu khuê võng thám
Chốn quảng hàn cung cấp vào ra
Nhọc nhằn thay họ Quách lương gia
Nhân từ có một hiền hòa không hai
Vừa gặp buổi trang đài hội yến
Chầu Lục vào dâng tiến kim bôi
Bỗng đâu Chầu Lục sảy rơi chén vàng
Trên chín bệ Vua cha phật ý
Nổi lôi đình truyền chỉ chiếu ban
Kíp đầy Chầu xuống trần gian
Mười lăm năm ấy khải hoàn hồi cung
Nhà họ Quách vốn dòng quốc chỉ
Kết duyên lành Lã Thị Hồng Mai
Vào năm kỷ mão tháng hai
Ngày Mão giờ Mãi Trang đài nở hoa
Vẻ cốt cách da ngà tựa tuyết
Bóng trăng tròn mặt nguyệt như in
Mày ngài mắt phượng tóc tiên
Môi son má phấn lại thêm nõn nà
Nhắc đến Chầu thêm mà thương nhớ
Lại căm thù giặc giữ Nguyên Mông

CÁCH THỜ CÚNG CHẦU LỤC CUNG NƯƠNG

Tập tục đi lẽ cầu an tại các phủ đền miếu điện vào các ngày đầu xuân, các ngày sóc vọng (rằm, mồng một), các ngày tiệc thánh, hội đền hay bất cứ ngày nào trong năm là một tong những tín ngưỡng thờ cúng lâu đời ăn sâu vào trong tâm trí người Việt. Đi lễ thánh trước hết để tỏ lòng tôn kính ngưỡng phục biết ơn vì sự bảo hộ cho dân chúng an bình, may mắn, tốt lành. Theo phong tục cổ truyền, đi cúng Chầu Lục Cung Nương cũng chuẩn bị những đồ lễ, sớ văn như sau:

Thông thường các lễ vật được sắp làm các phần lễ và bày ở ban chính (ban công đồng, ban trần triều, ban sơn trang, ban Mẫu,…) hoặc tất cả các ban thờ. Các lễ vật dâng tiến thường có: Trầu cau; Lục cúng chay tịnh (Hương, Hoa, Đăng, Trà, Quả, Thực); đồ lễ mặn ở ban các thánh, không ở ban Phật (thịt sống, trứng, gạo, muối, rượu); Kim ngân bảo mã; Bảo vật. Trước khi hành hương đi lễ đền phủ, nhất là các nơi xa, các hương tử thường thắp hương khấn vái ban thờ gia tiên để xin phép.

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây