Tượng Đức Trần Triều

0
65

SƠ LƯỢC TIỂU SỬ HƯNG ĐẠO ĐẠI VƯƠNG TRẦN QUỐC TUẤN

Trần Quốc Tuấn, sinh ngày 10 tháng Chạp năm Mậu Tý (1228). Ông là con thứ 2 của Khâm Minh Đại Vương Trần Liễu, mẹ là Đoan Túc. Quê Ông ở làng Tức Mặc, xã Lộc Vượng, ngoại thành Nam Định.

Viết về sự khai nguyên của dòng dõi nhà Trần, sách Đại Việt Sử Ký Toàn Thư của Ngô Sĩ Liên chép rằng :”Có người tên Kinh đến ở hương Tức Mặc, phủ Thiên Trường, sinh ra Hấp, Hấp sinh ra Lý, Lý sinh ra Thừa, đời đời làm nghề đánh cá”. Như vậy Trần Thừa là ông nội của Trần Quốc Tuấn, và Trần Cảnh tức là vua Trần Thái Tông là chú ruột của Người.

Trần Quốc Tuấn ra đời trong thời kỳ đầu của vương triều nhà Trần mở nghiệp. Từ nhỏ ông đã có năng khiếu về văn chương và võ lược. Được giáo dục và rèn luyện trong môi trường rất tốt của hoàng tộc, nên khi lớn lên ông trở thành người có học vấn uyên bác, lại thấu hiểu cả lục thao, tam lược.

Là người thông minh xuất chúng nhưng bản tính của Người lại rất bình dân, Người thường kết giao với các văn nhân, anh hùng, hào kiệt trong nước với thái độ khoan hòa, độ lượng nên rất được mọi người kính trọng.

Năm Tân Hợi (1251), ông lấy công chúa Thiên Thành làm vợ, sinh hạ được năm người con gồm bốn trai, một gái và một người con gái nuôi :
1. Trần Quốc Hiến – Hưng Trí Vương.
2. Trần Quốc Nghiễn – Hưng Vũ Vương.
3. Trần Quốc Tảng – Hưng Nhượng Vương.
4. Trần Quốc Uy – Hưng Hiến Vương.
5. Quyên Thanh Quận Chúa (vợ của vua Trần Nhân Tông, được phong làm Khâm Từ Hoàng Hậu).
6. Anh Nguyên Quận Chúa (con gái nuôi và là vợ của danh tướng Phạm Ngũ Lão).

Giá trị linh thiêng của Đức Trần Triều

“Đức Thánh Trần” là một hiện tượng đặc biệt của đời sống văn hóa dân gian người Việt. Nó như một minh chứng tiêu biểu về mối liên hê giữa các yếu tố lịch sử và dân gian trong các hiện tượng văn hóa dân gian.

Bên cạnh khuynh hướng lịch sử hóa huyền thoại về giới tự nhiên còn có một khuynh hướng khác, đó là huyền thoại hóa cuộc đời và những chiến công của các nhân vật lịch sử. Ở đây những hồi ức về lịch sử, đậm màu sắc dân gian được dân chúng bảo tồn, tiềm ẩn trong cõi sâu thẳm của tâm linh, và được truyền tụng từ đời này sang đời khác với một vòng hào quang thần thánh.

Trong dòng tâm thức sùng kính đến mức thần hóa những người có công với nước với làng, người Việt đã tôn Thánh Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn – vị anh hùng dân tộc gắn liền với chiến công lẫy lừng của quân dân nhà Trần thế kỷ XIII ba lần đánh bại quân giặc Nguyên Mông.

Đặc biệt hơn, vị Thánh cao cả này đã có được một dòng tín ngưỡng – phụng thờ: tín ngưỡng Đức Thánh Trần. Không gian thiêng của Thánh trải dài suốt từ Bắc đến Nam. Thời gian thiêng, theo sử sách ghi chép, cũng đã vượt qua bảy thế kỷ với bao biến động thăng trầm.

Dù các lớp phù sa văn hóa chồng xếp, người ta vẫn có thể nhận ra những dấu ấn vật chất của tín ngưỡng thông qua một khối lượng khá lớn các truyền thuyết, di tích phụng thờ và các sinh hoạt lễ hội xoay quanh nhân vật lịch sử Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn.
Có lẽ người dân ở vùng đồng bằng Bắc Bộ ai cũng biết đến câu ca “Tháng Tám giỗ Cha, tháng Ba giỗ Mẹ”.

Đền Thờ Đức Trần Triều

Theo lịch sử, Hưng Đạo Vương mất tại Kiếp Bạc ngày hai mươi tháng Tám. Tâm thức dân gian coi ngày mất của ông cũng chính là ngày “giỗ Cha” – người Cha thiêng liêng trong sự đối sánh với Mẹ – Mẫu Liễu Hạnh. Hàng năm vào tháng Tám âm lịch, người dân ở khắp mọi miền quê lại nô nức đi về Bảo Lộc, Kiếp Bạc, đền Đồng Bằng với tâm thức đi “giỗ Cha”. Bởi vậy, đây được coi là thời điểm thiêng nhất của Ngài.

Tại đền Bảo Lộc, theo truyền thuyết, Hưng Đạo Vương mất ngày 20/8 thì đến ngày 26/8 dân Tức Mặc, Bảo Lộc đã được phép đặt bát nhang thờ và bàn việc sửa nơi ở cũ thành đền thờ. Đền Bảo Lộc có hiệu là An Lạc Viên từ, đền Tức Mặc có hiệu là Cố Trạch linh từ. Cả hai đền đều do nhà Trần chịu trách nhiệm tế lễ và làm quốc tế.

Trước ngày 20/8 làm lễ cáo, lễ xôi thịt lợn thịt gà. Sáng ngày 20/8, xã Tức Mặc sắm lễ tam sinh ở đền Cố Trạch, xã Bảo Lộc lễ tam sinh ở đền An Lạc rồi rước chân nhang về đền Cố Trạch. Vào khoảng cuối giờ Thìn, đầu giờ Tị rước bát nhang Vương sang lễ tại đền Thiên Trường, cuối giờ Tị rước về, sau đó rước kiệu bát cống từ đền Cố Trạch trở về An Lạc tế Thánh Phụ Thánh Mẫu vào đầu giờ Mùi.

Tối ngày 20 lễ trừ thổ ôn, thổ khí, tà quỉ ở đền An Lạc cho đến tận sáng, trưa 21 lễ tạ ở đền. Trưa 21 dân Tức Mặc cũng rước Hưng Đạo Vương sang chùa Tháp tế vua Nhân Tông một tuần rồi rước lại, trời tối thì lễ tạ. Theo tác giả Dương Văn Vượng, dựa vào sách Trần gia phả ký năm Chính Hoà thứ nhất (1680) và lời kể của một số cụ trong họ Trần thì trong các kỳ lễ của nhà Trần ở Bảo Lộc rất hay lễ cá.

Cũng như ở Bảo Lộc, tại đền Kiếp Bạc, lễ hội Đức Thánh Trần thực chất diễn ra ngay từ đầu tháng Tám. Người ta kéo về đây từ mọi ngả đường, trên bến dưới thuyền. Xưa kia vào ngày kỵ Trần Hưng Đạo, các quan trong triều đình đều đến đền dự và dâng hương.

Ngày nay, vào 10/8, dưới sự chứng kiến của Uỷ ban nhân dân và một số cấp chính quyền, người ta làm lễ mở cửa đền, bắt đầu lễ hội. Ngày 18/8, nhà nước tổ chức dâng hương. Lễ chính tiến hành vào ngày 20/8 thường do làng Vạn (tổng Trạm Điền), làng Bạc (tổng Chi Ngại) chịu trách nhiệm.

Làng Vạn xưa có tám giáp, mỗi giáp phải chuẩn bị một con lợn khoảng 80 kg làm sạch, để sống và một cỗ bánh đường đặt lên mâm tập trung trước Nghi môn. Sau phần tế lễ, đám rước được cử hành. Điều đáng chú ý là có nghi thức rước kiệu trên sông nhằm tái hiện lại trận thắng thủy chiến oai hùng của Trần Hưng Đạo trên sông Bạch Đằng.

Vào chính hội 19/8, các thuyền tập trung đông đặc ở bến sông để chuẩn bị cho đám rước. Kiệu thờ Hưng Đạo Vương được rước đặt lên thuyền rồng rời bến với một loạt những thuyền hộ tống trang trí rất đẹp, trong tiếng reo hò cổ vũ của đông đảo nhân dân tham gia.

Sau một thời gian diễu hành trên sông, đoàn thuyền lại quay trở về vị trí cũ và kiệu thờ lại được rước vào yên vị trang trọng trong đền. Ngoài ra, trong ngày hội, tuỳ năm mà người ta tổ chức nhiều trò chơi khác, ví dụ bơi trải, đua thuyền, múa rối nước, cờ người, hội vật…sôi nổi hấp dẫn.

Ngoài Kiếp Bạc và Bảo Lộc, hàng năm Lễ hội tháng Tám giỗ Cha còn diễn ra ở hầu hết các di tích thờ Đức Thánh Trần dưới các hình thức tế lễ cúng bái, trong đó khá tiêu biểu là đền Đồng Bằng, Thái Bình:

Dù ai buôn xa bán xa
Hai mươi tháng Tám giỗ Cha thì về
Dù ai buôn bán trăm nghề
Hai mươi tháng Tám thì về Đào thôn

Đền Đồng Bằng xưa thuộc thôn Đào Động, tổng Vọng Lỗ huyện Phụ Phượng, nay là xã An Lễ, huyện Quỳnh Phụ, Thái Bình. Theo thần tích của đền thì đền Đồng Bằng trước chỉ là một miếu nhỏ thờ thành hoàng làng Đào Động vốn là thủy thần, được gọi là Đức Vua Đệ Nhất, ngày mất 28/8, có sắc phong từ thời Vua Hùng”Trấn tây An Vĩnh Công Bát Hải đại vương”.

Có lẽ vậy mà đền còn có tên là đền Bát Hải, đền Vua Cha. Hội đền mở vào ngày 16/8, chính hội vào 20/8 – ngày mất của Trần Hưng Đạo và kéo dài đến ngày 28/8 – ngày mất của Đức Vua đệ nhất. Như vậy, tháng Tám giỗ Cha là giỗ “Cha Trần Hưng Đạo” hay “Cha Bát Hải đại vương” ?

Tương truyền, vào thế kỷ XIII, Hưng Đạo Vương đã đến thăm đền và đã có thời gian nghỉ tại đây (một số truyền thuyết khác chỉ nói đến việc ghé chân của các tướng lĩnh nhà Trần). Xung quanh khu vực đền Đồng Bằng cũng còn nhiều dấu vết của cuộc kháng chiến thời Trần, nhiều di tích thờ các tướng lĩnh đời Trần.

Bởi vậy mà từ sau thế kỷ XIII, từ chỗ chỉ là một đền thờ thủy thần, với sức hút của tâm thức đề cao anh hùng cứu nước, người dân đã đưa Đức Thánh Trần vào đền thờ và lấy ngày mất của ông làm ngày chính hội. Hình thức hội đặc biệt nhất ở đền Đồng Bằng là tục đua thuyền, bơi trải mà một số người cho là có gắn với thủy quân nhà Trần.

Bàn Thờ Đức Trần Triều

Những người chuyên thờ các chư vị là các bà đồng, những người chuyên thờ các ông tướng của Trần Hưng Đạo là các ông đồng hoặc các thầy pháp, nhưng người chuyên thờ các linh hồn âm phủ là các thầy bùa hoặc các thầy phù thủy”. Như vậy, phải chăng đã có riêng một phái chuyên thờ Trần Hưng Đạo – Đức Thánh Trần?

Nếu như những người theo đạo của Bà Liễu Hạnh được gọi là đồng cốt (bà cốt, bà cô tí) thì những người theo Đức Thánh Trần được gọi là Thanh đồng: “Thanh đồng là những người thờ về đức Thánh Trần…Đàn bà sinh sản đau yếu, hoặc con gái hiếm muộn, thường cho là bệnh Phạm Nhan làm, hoặc là tiền kiếp phu thê ghen tuông hoặc là vì thạch tinh cốt khí yêu ma quỉ quái ám ảnh mà thành bệnh.

Người có bệnh đem vàng hương giàu rượu đến cửa điện lễ bái, nhờ thanh đồng kêu khấn xin Thánh trừ tà cho”. Trong Việt Nam văn hóa sử cương, ông Đào Duy Anh viết: “Những người chuyên thờ Thánh Hưng Đạo (Thánh Trần) thường gọi là thanh đồng hay ông đồng.

Những ông đồng thờ ngài phải lập tĩnh trong nhà. Mỗi năm đến ngày 20 tháng 8, là húy nhật, các ông đồng phải tề tựu ở đền Kiếp Bạc tỉnh Hải Dương, hay ở đền Bảo Lộc, đền Tức Mặc ở Nam Định để lễ bái” (từ “thanh đồng” phải chăng bắt nguồn từ nguồn gốc Thanh tiên đồng tử của Thánh?).

Nói về cách các ông đồng trừ tà ma, Phan Kế Bính có nói tới hai cách. Cách thứ nhất, “người có bệnh ngồi đồng bịt cái khăn tay đỏ vào mặt, rồi thanh đồng cầm vài nén hương thư phù vào mặt mũi và đôi bàn tay người ngồi đồng, niệm chú một vài câu, lại có bọn cung văn đánh trống gõ phách đọc bài văn sai để ốp đồng một lúc thì người ngồi đồng lảo đảo, tà ma nhập vào mình như bị thôi miên.

Thanh đồng quát mắng hỏi tra như quan tấn tù. Người ngồi đồng hoặc tự mình cầm vồ đập vào đầu mình, hoặc cầm bàn vả tát vào má, hoặc cầm roi đánh vào mình. Khi nào tà ma cung chiêu nhận tội thì thanh đồng truyền lịnh thánh bắt phải làm tờ cam kết, từ rày không được quấy nhiễu người ta.

Trong tờ cũng ký tên điểm chỉ, rồi thanh đồng truyền làm tội gì, tà ma phải chịu, tờ cam kết ấy, người có bệnh lĩnh về mà dán trên chỗ nằm”. Ông Toan Ánh còn viết “người ta bảo rằng dấu tay trên tờ cam kết tuy người bệnh in vào nhưng không là dấu của người bệnh; đó là dấu tay của con tà, so sánh với tay người bệnh khi hết bệnh thì không giống nhau”. Có sách đã miêu tả: “Trong ngày hội này, trước sân đền đâu đâu ta cũng thấy cảnh tượng những người phụ nữ không đẻ con, hay sinh con nhưng không được, quỳ niệm thần chú.

Một ông đồng mặc quần áo lòe loẹt; dắt cờ xanh đỏ quanh người, nhảy múa, gõ trống, khua thanh la để đuổi tà ma đang ẩn nấp trong người chị để làm hại. Một lúc, từ chỗ sợ sệt, chị ta cảm thấy mình bị thôi miên và bỗng nhiên như nhìn thấy hồn ma Phạm Nhan, chị lăn lộn, đập đầu xuống đất như để xua đuổi, đánh đập chính tà ma.

Có người như không chịu đựng được đã ù té chạy ra sông, lao xuống dòng nước như để dìm chết hồn ma. Tới khi lả đi vì mệt, người ta vớt chị lên, thân thể rũ rượi, coi như hồn ma đã bị xua đuổi”.

Còn một cách trừ tà khác là khi thánh đã nhập vào thanh đồng, thì thanh đồng ra oai “cho mắt trần biết phép Thánh”, lấy lụa tự thắt cổ, nung đỏ lưỡi cày rồi xỏ chân vào, nấu dầu sôi uống rồi phun ra, hoặc cho cả nắm hương đang cháy vào miệng, xiên lình hay dùng dao rạch lưỡi.

“Khi rạch lưỡi chảy máu thì phun ra một tờ giấy (để làm bùa gọi là dấu mặn); để cho người có bệnh đem về đốt ra lấy gio hòa với tàn hương nước thải mà uống, hoặc phát bùa để người ốm đeo vào mình”

Ở đền Đồng Bằng, hầu bóng diễn ra tấp nập đặc biệt vào dịp hội. Trước khi hầu, hay hát chầu văn, họ thường khấn lạy mời Đức Thánh Trần và Đức Vua Đệ nhất (Bát Hải đại vương), và các vị tướng lĩnh của hai ngài về ngự.

Các bản “Văn Triều Trần”, văn “Đức vua Bát Hải”…thường được sử dụng. Cách thức hầu về cơ bản giống với hầu Tứ Phủ, cả về trang phục, về âm nhạc và múa thiêng: cũng chùm khăn phủ diện mời thần linh nhập vào thanh đồng, nếu thần nhập thì sẽ tung khăn phủ diện (một số đệ tử cho biết, Quan bên hệ thống Trần Triều ra hiệu ngón tay cái, khác với Quan bên hệ thống Tứ phủ ra hiệu bằng những ngón khác).

Trong lúc hầu, các cung văn sẽ trổ hết tài nghệ kể sự tích lai lịch của vị thần và tán tụng, ca ngợi. Ở đền Kiếp Bạc, thường hầu Tam toà Thánh Mẫu trước rồi đến Phủ Trần Triều (Đức Thánh Trần, Đệ tam hoàng tử-con trai Trần Hưng Đạo, hai cô con gái), sau đó mới đến các cấp trong Tứ Phủ: hàng Quan, hàng Chầu, Cô, Cậu…. Ở đền Bảo Lộc, theo thủ nhang cho biết, khi hầu, Đức Thánh Trần rất ít khi “lên”, chỉ Đức Thánh Phạm (Phạm Ngũ Lão) thỉnh thoảng có lộ diện.

Những người hầu đồng phải ăn chay thanh tịnh sạch sẽ. Một số người khi hầu mang theo mâm gạo, khi Thánh về sẽ viết chữ phán truyền trên mâm gạo đó – một hình thức giáng bút.

Cũng như trong lễ thức thờ Mẫu, các hoạt động hầu bóng ở lễ hội Đức Thánh Trần đã có tác dụng bảo tồn hình thức diễn xướng dân gian truyền thống hát chầu văn, múa thiêng và cách trình diễn của loại hình sân khấu tâm linh. Đã có một thời gian; hầu đồng bên Trần Triều nhập vào với hệ thống Tứ Phủ thờ Mẫu, nhưng gần đây lại có xu hướng tách ra thành một hệ thống riêng biệt, chủ yếu nhằm chữa bệnh và trừ tà ma.

Hiện nay, bên cạnh hầu đồng còn có nhiều hình thức khác, ví dụ trong các đền có bán các loại bùa bằng giấy như bùa chấn trạch, bùa hộ mệnh…Sau khi lễ Thánh, người ta đem về dán ở nhà hoặc đeo vào người. Một số hình thức trừ tà ma trước đây, nay đã mất như xiên lình, rạch lưỡi, phép phù thủy….

Những người bị bệnh (đặc biệt những bệnh thần kinh, điên, nghi bị ma ám, người mắc chứng vô sinh hay hữu sinh vô dưỡng) vẫn đến đền Kiếp Bạc cầu khẩn Đức Thánh Trần. Sau khi khấn; xin âm dương, nếu được thì ra chỗ thủ nhang đóng dấu đồng màu đỏ vào giấy bản màu vàng, rồi lại vào cung, đến bàn thờ Đức Thánh Trần lễ trình.

Sau đó họ mang tờ giấy bản đốt hòa lẫn vào rượu và nước cúng, chắt nước trong uống, bã tro thì dùng để day vào thái dương hoặc xoa từ ngực trở xuống. Theo các cụ cho biết, nhiều người đã làm như thế và “khỏi bệnh”.

Ngoài ra, tại các đền thờ Đức Thánh Trần hoặc các chùa có ban thờ ông; còn phổ biến hình thức bán khoán cho trẻ em trong vòng 12 năm. Những đứa trẻ khó nuôi; người ta có lệ đem bán cho Đức Thánh Trần; dùng oai của Ngài để trấn mọi ma tà quỉ dữ, cho đứa trẻ lớn ngoan ngoãn và khoẻ mạnh. Thậm chí, có người còn đổi họ cho con thành họ Trần.

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây