Tượng Tam Toà Thánh Mẫu

0
29

Tam tòa thánh mẫu là ai?

Trong Tam Tòa Thánh Mẫu, Mẫu Thượng Thiên là hóa thân của Thánh Mẫu Liễu Hạnh, vốn là con gái Ngọc Hoàng đã nhiều lần giáng sinh nơi trần thế. Còn lại Mẫu Thượng Ngàn và Mẫu Thoải đều có nguồn gốc Sơn thần và Thúy thần, ít nhiều có gắn với các nhân vật nửa lịch sứ nủa huyền thoại của buối huyền sủ dân tộc, như Tản Viên, Hùng vương, Âu Cơ hay Lạc Long Quán, Kinh Dương Vương, Kinh Xuyên.

Trong Tam Tòa Thánh Mẫu ta còn thấy có sự kết hợp giữa tư duy mang tính vũ trụ luận (Trời, Đắt, Nước), tư duy huyền thoại (Thicn Thần, Sơn Thần và Thủy Thần) và tư duy lịch sử (Lạc Long Quân – Âu Cơ, Hùng Vương). Đây cũng là khía cạnh tâm lý mang đặc thù Việt Nam.

Mẫu Đệ Nhất Thượng Thiên

Mẫu thượng thiên sáng tạo bầu trời và làm chủ quyền năng mây, mưa, sấm, chớp, về phương diện vũ trụ quan, ta có thể thấy quan niệm về Mẫu nói chung và Mẫu Thiên nói riêng, trong quan niệm của dân gian về Tứ Pháp: Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Điện, Pháp Lồi, đó là bốn vị Nữ thần tạo ra mây, mưa, sấm, chớp.

Trong điện thần Ti Phủ, Mẫu Liễu Hạnh là vị Thánh xuất hiện khá muộn, mà theo hiểu biết hiện nay sớm nhất cũng chỉ vào khoảng thế kỷ XVI, thời Hậu Lê, nhưng nhanh chóng trỏ thành vị Thần chủ đạo của Đạo Mẫu Tam phù, Tứ phủ và được tôn vinh hon tất cá các Thánh Mẫu khác.

Thánh Mẫu Liễu Hạnh vùa là Thiên thần (Tiên) vừa là nhân thần đi đời sống trần gian, có cha mẹ, chồng con, chu du khắp nơi, trừ ác, ban lộc, khiến người đòi vừa sợ vừa trọng. Cổ lẽ vì Mẫu Liễu và với cá Đức Thánh Trần nứa họ đâ trở thành biểu tượng của sự kết hợp giữa thần linh và đời thường, gỉứa nhu cầu tâm linh hướng về cái cao cả, chân thiện mỹ, với việc chứa bệnh trừ ma tà, cứu giúp con người trong những khỏ khăn đời thường, củng như cầu tài lộc.

Cũng theo quan niệm dân gian, Mẫu Liễu có thể hóa thân vào Mẫu Thượng Ngàn trông coi miền núi. Vào tới Huế, Thánh Mẫu Vân Cát (tức Mẫu Liễu) hoặc là đặt ngang hàng hoặc là đồng nhất với Thánh Mẫu Thiên Ya Na nguyên gốc Chăm. Thánh Mẩu Liễu Hạnh mang trong minh nhứng cá tính cúa con người đời thường: yêu và ghét, tù thiện và độc ác; nhứng xung đột xã hội gìứa dân dã và cung đình, nho giáo mà biểu hiện là cuộc quyét chiến gíửa Bà với dòng Đạo Nội đương thời; xung đột và hòa hợp tôn giáo; đó là sự hòa hợp giủa tín ngưởng dân gian thờ Mẫu với Phật giáo, dọn đường cho các điện Mẫu thâm nhập vào các ngôi chùa làng quê. Mầu Liễu Hạnh còn hóa thân thành Địa Tiên Thánh Mẫu. Bà Mẹ Đất, cai quản mọi đất đai và đời sống các sinh vật.

Mẫu Đệ Nhị Thượng Ngàn

Mẫu thượng ngàn là hóa thân Thánh Mẫu toàn năng trông coi miền rủng núi, địa bàn chinh sinh sống của nhỉèu dân tộc thiểu số. Các đền thờ Mẫu Thượng Ngàn có ở hầu khắp mọi nơi, nhưng có hai nơi thờ phụng chính gắn với hai truyền thuyết ít nhiều có khác biệt đó là Suối Mỡ (Bắc Giang) và Bắc Lệ (Lạng Sơn).

Gắn với di tích đền thờ Suối Mỡ (Bắc Giang) luu truyền câu chuyện về bà Chúa Thượng Ngàn như sau: Vào thời Hùng Định Vương (một trong số 18 ông vua thòi Hùng vương), nhà vua có một hoàng hậu mang thai mãi khống đẻ, lúc đầu mọi người rất lo sợ, nhưng sau cũng thấy quen dần.

Vào năm thứ ba, một hôm Hoàng Hậu đi chơi trong rừng, bất ngờ cơn đau đẻ ập đến, những người theo hầu lúng túng không biết lo liệu ra sao, Hoàng Hậu đau quá chỉ còn biết ôm chặt lấy thân cây, cuối cùng cũng sinh hạ ra được một cô con gái.

Nhưng vì quá kiệt sức, Hoàng Hậu An Nương qua đời, để lại cho nhà vua cô con gái yêu quý, đặt tên là Mỵ Nương Quế Hoa. Lớn lên, Mỵ Nương Quế Hoa vừa ngoan ngoãn vừa xinh đẹp, tới tuổi cập kê mà không màng tới chuyện chồng con, chỉ luôn nhắc nhỏ tới người mẹ yêu quý đã sinh ra mình.

Sau khi biết rõ ngọn ngành, Công chúa quyết chí đi vào rừng tìm mẹ, không từ những gian lao nguy hiểm. Công chúa cũng đã chứng kiến những cánh tượng đói nghèo cơ cực cúa dân lành trong những bán làng xơ xác nơi nàng đã đi qua. Những lúc như vậy, Công chúa Mỵ Nương luôn trăn trở tìm cách nào đó để giúp những người dân lành lam lũ cực khổ kia. Một đêm, giũa rùng núi thâm u, nàng lính cầm thấy hơi ấm cúa người Mẹ. Nàng thốt lên tiếng gọi; “Mẹ ơi Mẹ ơi “ Như đồng cảm được với nồi lòng cứa nàng, một ông tiên bỗng hiện lên, trao cho Nàng phép thần thông, có thế dời núi, lấp sông, cứu giúp dân lành, học phép trường sinh.

Có được sách tiên, Công chúa cùng mười hai thị nữ ra sức học phép thần thông, chẳng mấy họ đã biết cách dời núi khai sông, đưa nước về tưới cho ruộng đồng tươi tốt, mang lại ấm no cho dân làng. Sau khỉ có được cuộc sống ấm no, bản làng trủ phú, một hôm có một đám mây ngù sắc xuống đón Mỵ Nương củng mười hai nguôi thị nủ bay lên trời.

Nhân dân lập đền thờ, tôn vinh Mỵ Nương là Bà Chúa Thượng Ngàn, hàng năm mở hội vào mùng một tháng tư âm lịch để ghi nhớ Cổng tích của Thánh Mẫu. Tương truyền đền Suối Mỡ thờ Mẫu Thượng Ngàn được xây cất từ thời Lê, các triều đại phong kiến đều có sắc phong.

Mẫu Đệ Tam Thoải Phủ

Mẫu thoải: Huyền thoại và thần tích của Mầu Thoải tùy theo tửng nơi có nhiều khác biệt, tuy nhiên, cũng có những nét chung cơ bản. Đó là vị thần trị vì vùng sồng nước, xuất thán từ dòng dõi Long Vương, liên quan trực tiếp vói thủy tổ dân tộc Việt buổi đầu dựng nước. Trương Sĩ Hùng trong một báo cáo khoa học đã cung cáp cho chúng tôi hai dị bản về Mẫu Thoải.

Dị bản thứ nhất xuất xứ từ làng A Lữ, kể rằng: Thưở trời đất mớỉ mở mang, rừng núi sông hồ vẫn còn hoang vu. Kinh Dương Vương thường đi chu du khắp nơi, một hôm tới vùng sông nước, đầm lầy, gặp một người con gái có sắc đẹp tuyệt trần, xưng là con gái của Long Vương ớ Động Dĩnh Hồ. Kinh Dương Vương đem lòng yêu mến và lấy Nàng làm vợ, sau sinh ra Sùng Lãm, chính là Lạc Long Quân, thủy tổ Bộ Rồng của Lạc Việt.

Cũng với huyền thoạt trên, nhưng được người Nghệ Tĩnh gắn với địa phương vùng Ngàn Hống, nơi núi non hùng vĩ với hình tượng 99 con Rồng chầu, nơi Kinh Dương Vương đi tuần du gặp con gái Long Vương xuắt hiện trên dòng Sông Lam (tên cũ là Thanh Long), gần cửa Hội. Còn M. Durand. trong công trình nghiên cứu về hầu đồng cùa người Việt thì lại cung cắp một dị bản khác ỏ Tuyên Quang, gắn với nhiều tình tiết mang tính chát gia đình thời hiện đại.

Truyện kê rằng: Kinh Xuyên là một hoàng tủ con vua, láy vợ là con gái Long Vương tại Động Đình Hồ (Trung Quốc). Bà rất yêu thưong chồng, nhưng Kinh Xuyên lại lấy vợ hai là Thảo Mai, một phụ nữ đem lòng ghen ghét và đố ky với vợ cả của Kinh Xuyên, nên đã lừa vu cáo Nàng là người không giữ lòng chung thủy với chồng. Bực tức, Kinh Xuyên nhốt vở cả vào cũi đem bỏ vào rừng sâu cho thú ăn thịt, ở trong rừng, không nhũng bà không bị thú dữ ăn thịt mà còn được chúng yêu quý, hàng ngày mang hoa quả về nuôi bà sống qua ngày.

Một hôm, một nho sinh bắt gặp bà trong rừng, bà đã nhờ chuyển một lá thư cho cha là Long Vương ỏ Động Đình đê đến cứu thoát. Nho sinh đã làm tròn phận sự, Bà đã được cứu thoát. Long vương muốn gả công chúa cho nho sinh, nhưng ông từ chổi, chi muổn là người bạn trung thành của Bà để đề cao đạo đức cứa Bà, người đời suy tôn Bà là Mầu Thoải (Mẹ Nước), lập đền thờ ở Tuyên Quang, gọi là đền Giùm (giùm là giúp đỡ), nay thuộc Yên Sơn, trên hữu ngạn Sông Lô, Người đòi sau gọi tên hỉệu cứa bà là Quang Nhuận.

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây